Victoria Sherrow, tác giả cuốn sách “Encyclopedia of Hair: A Cultural History” (tạm dịch “Bách khoa toàn thư về tóc. Lịch sử văn hoá”), nhận xét rằng độ dài mái tóc của phụ nữ Mỹ cũng phụ thuộc vào việc nền kinh tế của nước này đang ở trong tình trạng nào, và do đó mọi người phải thực hiện một lối sống ra sao. Lịch sử thế kỷ XX chứng minh rằng vào những giai đoạn khó khăn kinh tế thì (trong nhiều trường hợp nhưng không phải bao giờ cũng vậy) mái tóc ngắn trở thành mốt, còn trong “những năm màu mỡ” thì xuất hiện mốt tóc dài. Theo Sherrow, sở dĩ như vậy là vì việc chăm sóc mái tóc dài phức tạp và tốn kém hơn.
Công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý ở Đại học Ohio (Ohio State University at Marion) cho phép phát hiện thêm một đặc điểm lý thú nữa của khủng hoảng kinh tế. Họ đã phân tích các bức ảnh “người mẫu của năm” do tạp chí Playboy công bố trong giai đoạn từ 1960 đến 2000. Hoá ra, trong những năm nền kinh tế nước Mỹ gặp khó khăn, Playboy chủ trương đăng ảnh những cô gái trông già hơn, gầy hơn, ngực nhỏ hơn, v.v…Nghĩa là, tạp chí lựa chọn những người mẫu mà độc giả của nó cho rằng phù hợp với tinh thần thời đại.
Còn một hậu quả nữa của khủng hoảng kinh tế ở Mỹ theo truyền thống là sự phổ biến của loại sách kinh tế, lịch sử và giáo dục nghiêm túc. Thống kê số lượng sách đã bán được của mạng lưới cửa hàng sách của Mỹ Barnes & Nobles chứng minh rằng vào nửa sau năm 2008 lọt vào danh mục bestsellers là các cuốn sách mô tả những diễn biến của cuộc Đại khủng hoảng 1929, và các công trình của các nhà kinh tế cung cấp những khuyến nghị về việc quản lý tài chính cá nhân và những dự báo dài hạn về sự phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, số lượng sách giáo khoa cũng được tiêu thụ rất lớn - người Mỹ bắt đầu nâng cao trình độ chuyên môn của mình, và trong nhiều trường hợp họ mong muốn học thêm một nghề mới.
Đây không phải là ví dụ đầu tiên. Cuộc Đại khủng hoảng bắt đầu vào năm 1929, còn vào năm 1930 các hãng điện ảnh Mỹ đã thu được những món lợi nhuận kỷ lục (thông thường điều này được lý giải rằng những con người phiền muộn khi gặp phải những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, muốn quên đi cái hiện thực phũ phàng và sẵn sàng bỏ tiền mua vé xem phim). Tuy nhiên năm 1931 nền điện ảnh cũng gặp phải những khó khăn: số lượng khán giả bắt đầu giảm xuống.
Hiệp hội các chủ sở hữu rạp chiếu phim quốc gia Mỹ đã tiến hành điều tra tỉ mỉ số lượng khán giả xem phim từ cuối những năm 1970. Nó cũng chứng minh rằng vào năm khủng hoảng đầu tiên số lượng khán giả xem phim tăng lên, còn trong những năm tiếp theo lại giảm xuống, đôi khi rất đáng kể, cho tới lúc bắt đầu giai đoạn phát triển kinh tế tiếp theo.
Walt Disney đã phát minh ra Mickey Mouse năm 1928, năm 1929 đã ra đời bộ phim hoạt hình thứ hai về chú chuột và trở nên rất nổi tiếng “Steamboat Willie”. Sau đó thị trường chứng khoán Mỹ bắt đầu sụp đổ và xảy ra khủng hoảng. Tuy nhiên điều đó càng khiến Mickey Mouse gặt hái nhiều thành công hơn. Những bộ phim về chuột Mickey và các bạn của nó được xuất xưởng gần như hàng tháng, đã làm tăng thêm lòng lạc quan và niềm hy vọng vào những điều tốt đẹp – đó chính là những tình cảm mà người Mỹ muốn gìn giữ. Kết quả là chú chuột nhỏ đã trở nên cực kỳ nổi tiếng, và đã xuất hiện hàng chục và hàng trăm loại hàng hoá mang tên nó: từ áo thể thao và đồng hồ đến các loại đồ trang sức bằng vàng bạc và sách. Các nhà chính trị và nhà báo thời bấy giờ đánh giá rất cao “hoạt động” của Mickey Mouse trong việc bảo tồn tinh thần của quốc gia Mỹ. Một số phận tương tự cũng chờ đợi cô bé Shirley Temple, em bắt đầu đóng phim năm 6 tuổi. Năm 1930 Shirley đã trở thành đứa bé nổi tiếng nhất thế giới; trong bảng xếp hạng các ngôi sao điện ảnh Hollywood cô bé này đã vượt qua cả Clark Gable và Mae West. Thực ra, trong tất cả các bộ phim của thời Đại khủng hoảng Shirley kiều diễm chỉ đóng vai một cô bé sắc sảo, tài năng và không buồn rầu. Cô đã làm tăng thêm lòng lạc quan.
Nhà sử học Ina Rae Hark trong cuốn sách “American Cinema of the 1930s: Themes and Variations (Nền điện ảnh Mỹ trong những năm 1930. Đề tài và những thay đổi”’) nhận xét rằng cuộc Đại khủng hoảng quả là đã chôn vùi các bộ phim hành động, nơi nhân vật chính là những tên mafia – công chúng Mỹ hoàn toàn đánh mất sự quan tâm đối với chúng để chuyển sang những bộ phim có nội dung tươi sáng hơn. Kết thúc cuộc Đại khủng hoảng được đánh dấu bằng sự xuất hiện những bộ phim đã đi vào kho tàng của nền điện ảnh thế giới – ví dụ như các bộ phim chuyển thể từ các kiệt tác văn học “Gone with the Wind” (Cuốn theo chiều gió), “The Grapes of Wrath” (Chùm nho nổi giận) và “The Wizard of Oz” (Phù thuỷ ở đất nước Oz). Năm 1939 là năm cuối cùng của cuộc Đại khủng hoảng - hiện nay được coi là “năm vĩ đại nhất của Hollywood”.
Câu chuyện tương tự cũng đã diễn ra trong nền điện ảnh châu Âu và Mỹ trong cuộc khủng hoảng vào những năm 1970. Các hãng điện ảnh buộc phải từ chối quay những bộ phim đắt tiền để chuyển sang những tác phẩm rẻ tiền và mang tính “sân khấu” hơn, dựa vào tài năng của các diễn viên và sự ngẫu hứng của các đạo diễn. Chính những bộ phim đó, ví dụ như ”A Clockwork Orange” (Quả cam vặn dây cót), hiện nay được coi là biểu tượng của thời đại mình và là những tác phẩm nghệ thuật đích thực.
Nhà văn hoá học Jeffrey Hyson ở Saint Josephs’ University in Philadelphia khẳng định rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế trong lĩnh vực văn hoá đại chúng thường diễn ra qua hai giai đoạn: đầu tiên các nhà văn hoá lấy hệ tưởng của chủ nghĩa dân tuý tình cảm lạc quan làm vũ khí, còn khi nền kinh tế bắt đầu được cải thiện thì nổi lên hàng đầu là đề tài tìm hiểu về mặt đạo đức-thẩm mỹ của những sự kiện đã xảy ra, điều này khiến cho các thể loại thanh nhã của chính kịch và bi kịch trở nên phổ biến hơn.
