Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2009

Khủng hoảng kinh tế và hậu quả đối với văn hoá

Tiêu điểm
Thứ sáu, 29/5/2009, 13:17 (GMT+7)



(TGĐA) - Theo truyền thống một trong những vật hy sinh đầu tiên của khủng hoảng kinh tế là văn hoá. Các nhạc sĩ, họa sĩ, kiến trúc sư gặp phải sự cắt giảm đáng kể số lượng các hợp đồng. Tuy nhiên ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đối với văn hoá không chỉ dừng lại đó.
Diễn viên Shirley Temple
Trong cuốn sách “Economics and Culture” (Kinh tế và văn hoá), David Throsby chứng minh rằng trong rất nhiều trường hợp khủng hoảng kinh tế dẫn tới sự xuất hiện những kiệt tác thực sự. Điển hình là câu chuyện của kiến trúc sư vĩ đại Frank Lloyd Wright. Vào đầu cuộc Đại khủng hoảng1929, ông là một chuyên gia khá nổi tiếng, thế nhưng sau khi bắt đầu cuộc khủng hoảng kinh tế ông phải ngồi chơi xơi nước mấy năm liền. Tuy vậy lúc bấy giờ ông cũng nhận được một loạt đơn đặt hàng xây dựng nhà tư nhân, một số công trình trong đó đã đi vào kho tàng của kiến trúc thế giới. Thế rồi Wright bắt đầu quan tâm tới việc xây dựng đại trà nhà ở rẻ tiền và phát triển hàng loạt quan điểm cực kỳ thú vị.
Khủng hoảng ảnh hưởng tới cả những lĩnh vực khác nhau của mốt thời trang. Nhiều người biết rất rõ sự phụ thuộc của chiều dài váy phụ nữ vào tình trạng kinh tế. Hiện tượng này lần đầu tiên xuất hiện sau Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi phụ nữ buộc phải tiết kiệm, kết quả là kích thước váy bị rút ngắn và người ta phát minh ra váy “mini”.
Cảnh trong phim Cuốn theo chiều gió

Victoria Sherrow, tác giả cuốn sách “Encyclopedia of Hair: A Cultural History” (tạm dịch “Bách khoa toàn thư về tóc. Lịch sử văn hoá”), nhận xét rằng độ dài mái tóc của phụ nữ Mỹ cũng phụ thuộc vào việc nền kinh tế của nước này đang ở trong tình trạng nào, và do đó mọi người phải thực hiện một lối sống ra sao. Lịch sử thế kỷ XX chứng minh rằng vào những giai đoạn khó khăn kinh tế thì (trong nhiều trường hợp nhưng không phải bao giờ cũng vậy) mái tóc ngắn trở thành mốt, còn trong “những năm màu mỡ” thì xuất hiện mốt tóc dài. Theo Sherrow, sở dĩ như vậy là vì việc chăm sóc mái tóc dài phức tạp và tốn kém hơn.

Kathy Peiss, tác giả cuốn sách “Hope In Jar: The Making of America’s Beauty Culture” (Hy vọng ở Nhà băng. Xây dựng nền văn hoá sắc đẹp của Mỹ”), phân tích lịch sử các hãng mỹ phẩm Mỹ. Nhiều hãng trong số đó đã xuất hiện đúng vào thời đại các cuộc khủng hoảng kinh tế. Thông thường, thành công của chúng dựa trên sự kết hợp hàng loạt yếu tố. Người phụ nữ bắt buộc phải tiết kiệm khi đến gặp các chuyên gia trang điểm lành nghề và mua sắm các sản phẩm đắt tiền, thay vào đó họ phải tự trang điểm lấy khuôn mặt của mình và chế tạo ra những loại mỹ phẩm mới, v.v…thường được sản xuất trong điều kiện gia đình. Một số mỹ phẩm mới đó lại đựơc các bạn gái và người quen sử dụng, sau đó bắt đầu việc mua bán, trong một số trường hợp hoạt động sản xuất mỹ phẩm nghiệp dư gia đình đã làm xuất hiện một đế chế mỹ phẩm mới.
Cảnh trong phim Chùm nho nổi giận

Công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý ở Đại học Ohio (Ohio State University at Marion) cho phép phát hiện thêm một đặc điểm lý thú nữa của khủng hoảng kinh tế. Họ đã phân tích các bức ảnh “người mẫu của năm” do tạp chí Playboy công bố trong giai đoạn từ 1960 đến 2000. Hoá ra, trong những năm nền kinh tế nước Mỹ gặp khó khăn, Playboy chủ trương đăng ảnh những cô gái trông già hơn, gầy hơn, ngực nhỏ hơn, v.v…Nghĩa là, tạp chí lựa chọn những người mẫu mà độc giả của nó cho rằng phù hợp với tinh thần thời đại.

Còn một hậu quả nữa của khủng hoảng kinh tế ở Mỹ theo truyền thống là sự phổ biến của loại sách kinh tế, lịch sử và giáo dục nghiêm túc. Thống kê số lượng sách đã bán được của mạng lưới cửa hàng sách của Mỹ Barnes & Nobles chứng minh rằng vào nửa sau năm 2008 lọt vào danh mục bestsellers là các cuốn sách mô tả những diễn biến của cuộc Đại khủng hoảng 1929, và các công trình của các nhà kinh tế cung cấp những khuyến nghị về việc quản lý tài chính cá nhân và những dự báo dài hạn về sự phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, số lượng sách giáo khoa cũng được tiêu thụ rất lớn - người Mỹ bắt đầu nâng cao trình độ chuyên môn của mình, và trong nhiều trường hợp họ mong muốn học thêm một nghề mới.

Khủng hoảng tài chính theo truyền thống có ảnh hưởng tới cả ngành điện ảnh. Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay bắt đầu vào năm 2008, tuy nhiên theo đánh giá của National Association of Theatre Owners (Hiệp hội các chủ sở hữu rạp chiếu phim quốc gia), năm 2008 ở Mỹ người ta đã bán được một số lượng vé xem phim kỷ lục. Những người hâm mộ điện ảnh ở Anh, Pháp, Canada, Đức cũng đã hưởng ứng cuộc khủng hoảng tương tự như vậy.
Chuột Mickey

Đây không phải là ví dụ đầu tiên. Cuộc Đại khủng hoảng bắt đầu vào năm 1929, còn vào năm 1930 các hãng điện ảnh Mỹ đã thu được những món lợi nhuận kỷ lục (thông thường điều này được lý giải rằng những con người phiền muộn khi gặp phải những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, muốn quên đi cái hiện thực phũ phàng và sẵn sàng bỏ tiền mua vé xem phim). Tuy nhiên năm 1931 nền điện ảnh cũng gặp phải những khó khăn: số lượng khán giả bắt đầu giảm xuống.

Hiệp hội các chủ sở hữu rạp chiếu phim quốc gia Mỹ đã tiến hành điều tra tỉ mỉ số lượng khán giả xem phim từ cuối những năm 1970. Nó cũng chứng minh rằng vào năm khủng hoảng đầu tiên số lượng khán giả xem phim tăng lên, còn trong những năm tiếp theo lại giảm xuống, đôi khi rất đáng kể, cho tới lúc bắt đầu giai đoạn phát triển kinh tế tiếp theo.

Điều thú vị là các cuộc khủng hoảng kinh tế có tác động cả tới nội dung của các bộ phim. Trước đây người ta đã công bố những tài liệu nghiên cứu chứng minh rằng trong những năm khủng hoảng các diễn viên điện ảnh cao tuổi hơn thường nhận được các vai diễn chính. Ngoài ra, đã có những trường hợp cho thấy các cuộc khủng hoảng đã sản sinh ra những “ngôi sao màn bạc” mới. Ví dụ, trong thời gian cuộc Đại khủng hoảng, Mickey Mouse và Shirley Temple đã trở nên nổi tiếng thế giới.
Cảnh trong phim Quả cam vặn dây cót

Walt Disney đã phát minh ra Mickey Mouse năm 1928, năm 1929 đã ra đời bộ phim hoạt hình thứ hai về chú chuột và trở nên rất nổi tiếng “Steamboat Willie”. Sau đó thị trường chứng khoán Mỹ bắt đầu sụp đổ và xảy ra khủng hoảng. Tuy nhiên điều đó càng khiến Mickey Mouse gặt hái nhiều thành công hơn. Những bộ phim về chuột Mickey và các bạn của nó được xuất xưởng gần như hàng tháng, đã làm tăng thêm lòng lạc quan và niềm hy vọng vào những điều tốt đẹp – đó chính là những tình cảm mà người Mỹ muốn gìn giữ. Kết quả là chú chuột nhỏ đã trở nên cực kỳ nổi tiếng, và đã xuất hiện hàng chục và hàng trăm loại hàng hoá mang tên nó: từ áo thể thao và đồng hồ đến các loại đồ trang sức bằng vàng bạc và sách. Các nhà chính trị và nhà báo thời bấy giờ đánh giá rất cao “hoạt động” của Mickey Mouse trong việc bảo tồn tinh thần của quốc gia Mỹ. Một số phận tương tự cũng chờ đợi cô bé Shirley Temple, em bắt đầu đóng phim năm 6 tuổi. Năm 1930 Shirley đã trở thành đứa bé nổi tiếng nhất thế giới; trong bảng xếp hạng các ngôi sao điện ảnh Hollywood cô bé này đã vượt qua cả Clark Gable và Mae West. Thực ra, trong tất cả các bộ phim của thời Đại khủng hoảng Shirley kiều diễm chỉ đóng vai một cô bé sắc sảo, tài năng và không buồn rầu. Cô đã làm tăng thêm lòng lạc quan.

Tổng thống Franklin Roosvelt trong một bài phát biểu đã bày tỏ lòng cảm ơn Shirley Temple vì đã khích lệ tinh thần của mọi người trong những năm khủng hoảng. Điều thú vị là danh tiếng của nữ diễn viên nhí này đã biến mất đúng là trong chốc lát– vào năm 16 tuổi người ta đã không mời cô đóng phim nữa. Cuộc Đại khủng hoảng đã kết thúc, và những nhân vật mới đã trở nên thời thượng.
Cảnh trong phim Phù thủy ở đất nước OZ

Nhà sử học Ina Rae Hark trong cuốn sách “American Cinema of the 1930s: Themes and Variations (Nền điện ảnh Mỹ trong những năm 1930. Đề tài và những thay đổi”’) nhận xét rằng cuộc Đại khủng hoảng quả là đã chôn vùi các bộ phim hành động, nơi nhân vật chính là những tên mafia – công chúng Mỹ hoàn toàn đánh mất sự quan tâm đối với chúng để chuyển sang những bộ phim có nội dung tươi sáng hơn. Kết thúc cuộc Đại khủng hoảng được đánh dấu bằng sự xuất hiện những bộ phim đã đi vào kho tàng của nền điện ảnh thế giới – ví dụ như các bộ phim chuyển thể từ các kiệt tác văn học “Gone with the Wind” (Cuốn theo chiều gió), “The Grapes of Wrath” (Chùm nho nổi giận) và “The Wizard of Oz” (Phù thuỷ ở đất nước Oz). Năm 1939 là năm cuối cùng của cuộc Đại khủng hoảng - hiện nay được coi là “năm vĩ đại nhất của Hollywood”.

Câu chuyện tương tự cũng đã diễn ra trong nền điện ảnh châu Âu và Mỹ trong cuộc khủng hoảng vào những năm 1970. Các hãng điện ảnh buộc phải từ chối quay những bộ phim đắt tiền để chuyển sang những tác phẩm rẻ tiền và mang tính “sân khấu” hơn, dựa vào tài năng của các diễn viên và sự ngẫu hứng của các đạo diễn. Chính những bộ phim đó, ví dụ như ”A Clockwork Orange” (Quả cam vặn dây cót), hiện nay được coi là biểu tượng của thời đại mình và là những tác phẩm nghệ thuật đích thực.

Nhà văn hoá học Jeffrey Hyson ở Saint Josephs’ University in Philadelphia khẳng định rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế trong lĩnh vực văn hoá đại chúng thường diễn ra qua hai giai đoạn: đầu tiên các nhà văn hoá lấy hệ tưởng của chủ nghĩa dân tuý tình cảm lạc quan làm vũ khí, còn khi nền kinh tế bắt đầu được cải thiện thì nổi lên hàng đầu là đề tài tìm hiểu về mặt đạo đức-thẩm mỹ của những sự kiện đã xảy ra, điều này khiến cho các thể loại thanh nhã của chính kịch và bi kịch trở nên phổ biến hơn.

Trần Hậu
(Theo Washprofile)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét